Ung thư gan là một bệnh lý phổ biến tuy nhiên trong giai đoạn đầu lại không có nhiều biểu hiện. Vì vậy những đối tượng có nguy cơ mắc ung thư gan cao như người có yếu tố di truyền, uống nhiều bia rượu, khó tiêu nặng bụng kéo dài… nên đi khám sớm phát hiện bệnh. Cùng tìm hiểu một số phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm ung thư gan phổ biến hiện nay!
Các phương pháp chẩn đoán ung thư gan bằng hình ảnh
Một số phương pháp chẩn đoán ung thư gan nổi bật bao gồm siêu âm, chụp X-quang, chụp CT, chụp cộng hưởng từ (MRI).
Trong đó, siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, đơn giản, hầu như không có hại cho cơ thể. Thông qua hình ảnh của gan khi siêu âm, bác sĩ có thể phát hiện được các khối u kích thước >1cm. Ngoài mục đích tầm soát phát hiện sớm ung thư gan, phương pháp siêu âm còn giúp phát hiện một số bệnh lý khác như tăng áp lực tĩnh mạch cửa, xơ gan. Kỹ thuật siêu âm cũng giúp xác định vị trí tổn thương, dẫn hướng hút và sinh thiết khi cần.

Đặc biệt, với mục tiêu tầm soát ung thư gan có thể dùng phương pháp siêu âm đàn hồi mô, kết quả chính xác tới 90% so với phương pháp sinh thiết, bệnh nhân sẽ ít phải sinh thiết gan. Siêu âm đàn hồi mô gan là phương pháp xác định mức độ đàn hồi của mô gan dưới tác động đè nén, qua đó đánh giá tình trạng bệnh lý của gan. Nếu kết quả ở mức score 1 là u lành, score 2 hoặc 3 nghĩa là có nghi ngờ (cần chẩn đoán xét nghiệm thêm) và score 4 nghĩa là u ác tính.
Với kỹ thuật chụp sử dụng tia X, chụp X-quang và chụp CT là hai hình thức phổ biến. Chụp X-quang cho hình ảnh đen trắng của khu vực được chụp. Do độ hấp thụ tia X của từng vị trí sẽ khác nhau nên bác sĩ dựa vào màu sắc và độ đậm nhạt của một vị trí để chẩn đoán tình trạng bệnh. Trong khi đó, chụp CT cũng sử dụng tia X nhưng được phát triển hiện đại hơn. Máy chụp CT có độ phân giải khác nhau, số lát cắt từ 4 lát, 16 lát đến 64 lát tùy đời máy, giúp tái tạo hình ảnh chi tiết hơn và qua đó có thể đọc kết quả với độ chính xác cao hơn. Kỹ thuật chụp CT rất phổ biến để phát hiện các khối u gan, đặc biệt là khối u di căn nhỏ, đặc hiệu > 80%.
Chụp cộng hưởng từ (MRI) cũng là phương pháp chẩn đoán hình ảnh, tuy nhiên hình ảnh có độ phân giải cao sẽ giúp thấy khối u rõ hơn, qua đó cho kết quả chính xác hơn. Phương pháp này cũng được nhiều người ưu tiên do không phải tiếp xúc với bức xạ. Nhưng giá thành chụp MRI thường khá cao so với chụp X-quang hay chụp CT.
>> Xem thêm: Siêu âm có phát hiện sớm bệnh ung thư đại tràng không?
Các phương pháp xét nghiệm ung thư gan
Đối với các trường hợp chẩn đoán hình ảnh nhưng vẫn còn nghi ngờ, bệnh nhân cần thực hiện sinh thiết gan hoặc các xét nghiệm khác để kiểm tra chắc chắn kết quả. Sinh thiết gan là hình thức lấy mẫu mô gan để xét nghiệm. Tùy theo loại sinh thiết gan, bác sĩ sẽ chỉ định sinh thiết qua da (lấy mẫu mô gan bằng kim) hoặc sinh thiết qua tĩnh mạch cảnh (lấy mẫu mô gan bằng ống nhựa luồn qua một đường rạch nhỏ ở cổ luồn xuống gan). Người bệnh cần xét nghiệm máu trước khi sinh thiết gan để xác định phương pháp sinh thiết phù hợp. Kết quả xét nghiệm sinh thiết gan sẽ có sau khoảng 1 tuần.
Xét nghiệm Alpha-Fetoprotein (AFP) dựa trên nồng độ AFP trung bình. Người trưởng thành có nồng độ AFP trung bình dưới dưới 25UI/ml, nếu chỉ số tăng trên 25UI/ml có nguy cơ mắc ung thư gan. AFP có độ nhạy cao, tỷ lệ chính xác 80 – 90%. (Phần còn lại là một số người có nồng độ AFP cao do bệnh lý về gan khác như viêm gan, xơ gan.) Người đang mắc bệnh gan cũng được khuyến cáo xét nghiệm AFP kết hợp siêu âm mỗi 6 tháng để đánh giá nguy cơ ung thư gan.
Xét nghiệm AFPL3 cũng dựa trên AFP, nhưng là dạng AFP-L3 lấy từ tế bào gan ác tính (hai dạng khác là AFP-L1, AFP-L2). Xét nghiệm AFP-L3 có khả năng phát hiện tế bào ung thư với tỉ lệ lên tới 90%. Ở người bình thường, AFP-L3 chiếm khoảng 10% trên tổng phần trăm của AFP. Nếu cao hơn mức 10% này thì có nguy cơ mắc ung thư gan trong 21 tháng.
Trong khi đó, xét nghiệm Des-Gamma-Carboxy Prothrombin (DCP) còn được gọi là PIVKA-II giúp phát hiện triệu chứng bất thường của biểu hiện ung thư. Phương pháp này cũng giúp phát hiện sớm các khối còn chưa quá lớn. Do DCP được sản xuất bởi các khối u ở gan, mức độ tăng lên khi có ung thư gan nguyên phát, nên chất này được coi là “điểm đánh dấu” khối u. Tỉ lệ đặc hiệu của xét nghiệm DCP khoảng 85%.
Các phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm ung thư gan có thể áp dụng riêng lẻ hoặc kết hợp cùng nhau tùy theo chỉ định của bác sĩ đối với từng trường hợp cụ thể. Do đó, khi thuộc những trường hợp có nguy cơ ung thư gan hoặc có triệu chứng bất thường kéo dài, nên đến bệnh viện hoặc phòng khám đa khoa, chuyên khoa uy tín chất lượng để được khám và tầm soát.

